23 March 2011

[Tài liệu] Nguồn Chứng cứ trong Tố tụng hình sự Việt Nam


Bài viết liên quan:

Tóm lại: Những được coi chứng cứ phải đầy đủ ba thuộc tính trên. Nếu xét trong quan hệ nội tại giữa các các thuộc tính của chứng cứ thì tính khách quan tính liên quan là nội dung của chứng cứ, còn tính hợp pháp là hình thức của chứng cứ.
Ba thuộc tính của chứng cứ quan hệ chặt chẽ với nhau. Không th coi là chứng cứ nếu những tài liệu thu được không thoả mãn đầy đủ cả ba thuộc tính trên đây.
IV -Các loại nguồn chứng cứ
nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn chứng cứ. ý kiến cho rằng nguồn chứng cứ chính người hoặc vật đã cung cấp chứng cứ (1). Lại quan niệm cho rằng giữa nguồn chứng cứ chứng cứ quan hệ đến việc sử dụng chứng cứ:
“Từ những nguồn này, sau khi quan tố tụng xác định dùng nguồn nào để chứng minh trong từng vụ án cụ thể thì nguồn chứng cứ y trở thành chứng cứ ... Giả dụ ta coi bàn tay úp sấp nguồn chứng cứ cũng bàn tay ấy để ngửa là chứng cứ thì động tác xoay cổ tay để bàn tay từ sấp thành ngửa được ví như quá trình điều tra, tư duy để xác định nguồn chứng cứ nào thể được dùng là chứng cứ để chứng minh”(1) Như vậy, theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ chính chứng cứ. chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng hay không trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ quan niệm này tác giả đi đến việc phân định chứng cứ thành hai loại chính: “Chứng cứ vật chất (gồm vt chứng, biên bản hoạt động điều tra và các tài liệu khác) “Chứng cứ tinh thần” (gồm các lời khai, kết luận giám định).
Quan  niệm  khác  cho  rằng  nguồn   cái  dùng  để  xác  định  chứng  cứ: “Nguồn chứng cứ phương tiện chứng minh từ các phương tiện chứng minh rút ra được chứng c”. “Chứng cứ phải được rút ra từ những phương tiện chứng minh”(2) Nng lại quan niệm cho rằng “Nguồn chứng cứ những hình thức biểu hiện sự tồn tại của chứng cứ, được quy đnh bởi các quy phạm pháp luật, mà từ đó thể rút ra được chứng cứ”(3) Theo quan niệm này thì nguồn chứng cứ được hiểu theo hai khía cạnh: thứ nht, nguồn hình thức biểu hiện của chứng cứ, cho phép ta nhận thức được một cách cụ thể ràng về chứng cứ; thứ hai, nguồn nơi chứa đựng chứng cứ từ đó thể rút ra được chứng cứ. Quan niệm này nét gn giũ với quan niệm sau: “...nguồn chứng cứ với nghĩa là nơi quan tiến hành tố tụng hình sự tìm ra được những tình tiết giá trị chứng minh về tội phạm”(1)
Như vậy, thể thấy rằng nguồn chứng cứ cũng một vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm giải theo các cách nhìn khác nhau. Chúng i thống nhất với quan niệm cho rằng nguồn nơi chứa đựng những thông tin thể xác định chứng cứ của vụ án hình sự nếu thoả mãn các thuộc tính của chứng cứ.
dụ, trong vụ án hình sự rất nhiều lời khai của người làm chứng, người bị hại, bản kết luận giám định về nhiều tình tiết khác nhau. Đây chỉ nguồn chứng cứ của vụ án hình sự. Không phải tất cả mọi vấn đề trong lời khai của người làm chứng, người bị hại hay của kết luận giám định đều chứng cứ. Chẳng hạn, người làm chứng khai cho quan điều tra biết rất nhiều thông tin và các thông tin này xác định được có nhiều sự kiện đã xảy ra. Thì chỉ có thông tin nào xác thực về sự kiện liên quan đến vụ án đã được thu thập theo đúng Luật tố tụng hình sự thì mới thể chứng cứ...
 ràng  là nguồn  chứng  cứ   vai trò quan trọng trong việc xác định chứng cứ trong vụ án hình sự. Nếu không nguồn chứng cứ thì không thể có chứng cứ, nng không phải cứ nguồn chứng cứ đã xác định được chứng cứ.
Sau đây, giới thiệu một số vấn đề bản về nguồn chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam:
1. Vật chứng
Vật chứng nguồn chứng cứ tính truyền thống. Từ khi hoạt động tố tụng hình sự thì vt chứng luôn luôn gi vai trò quan trọng cho việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Tuy nhiên, vẫn những quan niệm khác nhau về giá trị của nguồn chứng cứ này. Theo một số lut gia tư sản, việc phân chia chứng cứ được xác định như sau:
“Các chứng cứ th được chia làm hai loại: Lời khai vật chứng. Lời khai loại chứng cứ dưới dạng lời nói hoặc viết, thường các câu trả lời khi bị hỏi cung, lời tường trình, lời thú tội, v.v... Vật chng loại chứng cứ tồn tại khách quan, hình dáng, kích cỡ, v.v... Vật chứng tồn tại dưới nhiều dạng, vật chứng thể lớn như một toà nhà, nhỏ như một sợi vải, thể chỉ thoảng qua như một mùi ơng hay ràng như quang cảnh của một vụ nổ”(1)
Như vậy, theo các luật gia này thì không sự phân biệt chứng cứ với nguồn chứng cứ. Lời khai vật chứng chứng cứ của vụ án hình sự. Vật chứng được hiểu tất cả những tồn tại bên ngoài thế giới khách quan hình dáng, kích cỡ... thể xác định được bằng trực quan thì đu là vật chứng. Từ đó có thể hiểu tất cả các loại dấu vết vật chất đều được gọi vt chứng. Cho nên, vật chứng thể rất đồ sộ như một toà nhà thể nhỏ li ti hoặc tồn tại ở dạng khí...
Việc đề cao đặc biệt giá trị của vật chứng trong quá trình chứng minh vụ án hình sự thể hiện nhất trong giới lut gia tư sản. Theo họ, vật chứng giá trị chứng minh rất cao trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự từ khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm cho đến khi tiến hành xét xử tại phiên toà: Vật chứng thể chứng minh được vụ án hình sự xảy ra hay không. Vật chứng chỉ ra mối liên hệ giữa thủ phạm nạn nhân hay hiện trường vụ án. Vật chứng thể được dùng để tìm ra những người liên quan đến vụ án. Vật chứng th minh oan cho người tội. Vật chứng thể dùng để kiểm tra lời khai của nời bị hại, người bị tình nghi...(1)
Thậm chí theo các tác giả này thì giá trị của vật chng còn thể hiện chỗ “...Vật chứng đáng tin cậy hơn nhân chứng.Vật chứng đã tr nên quan trọng hơn nhờ những quy định mới của Toà án. Toà án tối cao Hoa Kỳ đã hạn chế việc sử dụng các lời khai hay lời thú ti của bị cáo. Khi xét xử đoàn bồi thẩm thường yêu cầu đưa ra các vật chứng. Việc không bất kỳ một loại vật chứng nào ở hiện trường cũng thể cung cp thông tin quan trọng hoặc chấm dứt tranh luận tại phiên toà”. Vật chứng đáng tin cậy hơn nhân chứng... Đơn giản h chỉ kể lại những họ nghĩ đã nhìn thấy”(1). Trong trường hợp nếu mâu thuẫn giữa lời khai của những người được hỏi với vật chứng đã thu thập được thì người ta sẽ sử dụng vật chứng để bác bỏ lời khai. Việc xác định như vậy, phải chăng một lần nữa các luật gia sản đã trở về với việc thừa nhận hệ thống chứng cứ hình thức (chứng cứ pháp định) đã từng tồn tại ở trình tự t tụng hình sự xét hỏi vào thời kỳ phong kiến tập quyền thống trị các nước Tây âu. Xuất phát từ nguyên “chân luôn luôn cụ thế”(2) của chủ nghĩa duy vt biện chứng, Luật tố tụng hình sự của các ớc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa không chấp nhn việc đề cao thái quá giá trị của vật chứng trong hoạt động chứng minh vụ án hình sự, ngược lại cũng không được coi thường giá trị chứng minh của vật chứng trong hoạt động điều tra xét xử vụ án hình sự.
“Vật chứng rất quan trọng nên phải chú trọng thu thập đầy đủ, không được để sót vật nhỏ nhất, tầm thường nhất. Tuy vậy, cũng phải đánh giá đúng mức, không nên cho là loại nguồn chứng cứ cao nhất vạn năng. Thực tế, vật chứng có khi vẫn là giả. Phạm vi tác dụng chứng minh của có mức độ khác nhau...”(1) Theo Điều 56 Bộ Luật tố tụng hình sự Việt Nam thì: “Vật chứng những vật dùng m công cụ, pơng tiện phạm tội; vật mang dấu vết của tội phạm; vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc những vật khác giá trị chứng minh tội phạm nời phạm tội”
Vật chứng những vật (đồ vật, súc vật, thực vật, các chất rắn, lỏng,..) mà dựa vào đó thể xác định các sự kiện ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Những vật mang những thông tin xác định sự kiện đã xảy ra có liên quan đến vụ án hình sự. Việc khai thác các thông tin t vật chứng khác với việc khai thác thông tin từ li khai của những người tham gia tố tụng hình sự (người làm chứng, nời bị hại...). Thông tin do người tham gia tố tụng hình sự cung cấp được hoá ới dạng lời nói chữ viết. Với những ngôn ngữ này, con người thể hiểu được ngay về sự việc mà các thông tin này xác định. Song việc khai thác các thông tin từ vật chứng li đòi hỏi sự quan sát trực quan, tỉ mỉ, có sử dụng đến các phương tiện hỗ trợ các thành tựu khoa học khác. Cho nên, có nời gọi vật chứng “nhân chứng câm”.
nhiều cách phân loại vật chứng, căn cứ vào đặc điểm của việc xuất hiện tham gia vào quá trình xảy ra vụ án hình sự, thể phân chia vật chứng thành những loại sau đây:
+ Vật chứng những vật dùng làm công cụ, pợng tiện phạm tội như dao, súng, đạn, mìn, chó, hổ sấu... Pơng tiện giao thông, thông tin: Xe máy, bộ đàm... Nhà ở, phòng (như trong vụ cướp gật, bạc, chứa mại dâm...)
+ Vật chứng những vật mang dấu vết của tội phạm: Quần áo dính máu, cái cốc dấu vân tay... Vật mang dấu vết nếu theo nghĩa rộng thì gồm: Vật ghi lại dấu vết lúc tội phạm xảy ra; vật ghi lại dấu vết lúc tiến nh điều tra (khám nghiệm)...
+ Vật chứng những vật được coi đối tượng của tội phạm như tài sn của Nhà nước, công dân... (kể cả tiền đi tượng của tội phạm)
+Vật chứng còn những vật khác giá trị chứng minh tội phạm người phạm tội (kể cả tiền bạc do phạm tội có). dụ: Thông qua phạm tội mà tiền rồi dùng tiền để mua sắm các đồ dùng khác; hoặc phát hiện thấy vật đã để lại dấu vết hiện trường (như tại hiện trường thu được sợi vải khi khám xét phát hiện chiếc áo; tại hiện trường thu dấu vết dép, khi khám xét thu đôi dép có đặc điểm giống với dấu vết để lại hiện tờng...)
Trên sở của giá trị chứng minh của vật chứng nời ta thể chia vật chứng thành hai loại như sau: Vật chứng giá trị chứng minh tội phạm, vật chứng giá trị chứng minh người phm tội.
Vật chứng giá trị chứng minh tội phạm những vật, tiền bạc từ đó các quan tiến hành tố tụng hình sự người tiến hành tố tụng hình sự thể tìm ra những tình tiết giá trị chứng minh tội phạm (tức sự liên quan nht định -ít hoặc nhiều- đối với ti phạm). Bao gồm:
Tiền bạc (là công cụ, pơng tiện, đối tượng phạm tội hoặc vật mang dấu vết tội phạm);
Vật được dùng làm công cụ phạm tội;
Vật được dùng làm pơng tiện phạm tội; Vật đối tượng tác động của tội phạm;
Vật mang dấu vết tội phạm;
Vật khác giá trị chứng minh (do phm tội, mua bán tài sản đã chiếm đoạt được có).
Vật chứng giá trị chứng minh người phạm tội những vật chứng mà từ đó các quan tiến hành tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng hình sự có thể tìm ra những tình tiết giá trị chứng minh người phạm tội. Ví dụ: Dấu vân tay, dấu vết máu, dấu nạng gỗ của nời phạm tội bị què...(1)
Ngoài ra tuỳ thuộc vào tính năng, tác dụng của vật chứng người ta còn chia vật chứng thành vật chứng khí, chất độc chất cháy, chất phóng xạ... vật chứng các vật thông thường. Căn cứ vào giá trị sử dụng của vật chứng người ta chia thành vật chứng giá trị sử dụng vật chứng không có giá trị sử dụng. Căn cứ vào thời gian tồn ti có giá trị sử dụng của vật chứng mà người ta chia ra thành các loại như vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc dễ bị phân huỷ, vật chứng thuộc loại tài sản thời hạn sử dụng ngắn... Căn cứ vào tính chất đặc biệt của vật chứng người ta chia thành vt chứng tiền vàng, kim khí quí,... vật chứng các tài sn thông thường... Việc phân chia theo căn cứ nào tuỳ thuộc vào mục đích của việc phân chia như để tìm kiếm biện pháp thu thập thích hợp, để bảo quản tốt hoặc để đánh giá, để xử vật chứng...
2. Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
a, Lời khai của người làm chứng
Lời khai của người m chứng lời trình bày của người hiểu biết về những tình tiết liên quan đến vụ án theo yêu cầu của quan tiến hành tố tụng hình sự. Nội dung lời khai ca nời m chứng thể diễn biến của vụ án; nhân thân của bị can, bị cáo, nời bị hi; quan hệ của họ với bị can, bị cáo, người bị hại; những vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết vụ án (Những hoạt động của bị can tớc, sau khi vụ án sảy ra...)
Lời khai của nời m chứng ý nghĩa quan trọng, không th thay thế được. Về vấn đề này được hiu nếu một người đã tham gia (có thể tham gia) vào tố tng hình sự với vị trí là người làm chứng thì quan tiến hành tố tụng hình sự không để họ giữ vai trò tố tụng khác như người phiên dịch, nời giám định hoặc nời tiến hành t tụng hình sự trong vụ án hình sự đó. Không thể nhờ nời khác đến cơ quan tiến hành tố tụng hình sự để làm chứng thay, mà ai là người hiểu biết về vụ án được coi là người làm chứng thì họ phải tự mình thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm làm chứng, không thể giao cho người khác làm thay mình.
b, Lời khai của nời bị hại
Lời khai ca người bị hại lời trình bày ca người bị người phạm tội trực tiếp xâm hại đến thể chất, tinh thần, tài sản. Nội dung lời khai của người bị hại có thể là:
Diễn biến của vụ án, những tình tiết họ biết được (đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt, các giấy tờ liên quan, công tác bảo vệ...) Những thiệt hại do tội phạm gây ra.
Quan hệ của họ với bị can, bị cáo.
Những vấn đề khác ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án.
Lời khai của người bị hại ý nghĩa quan trọng. Bản thân họ người bị thiệt hại nên họ mong muốn nhanh chóng làm vụ án, họ thể nhớ được những tình tiết ý nghĩa cho việc giải quyết nhanh vụ án. Tuy vậy họ cũng có những đặc điểm tâm không phải luôn luôn lợi cho việc điều tra như thổi phồng những thiệt hại.
c, Lời khai của nguyên đơn dân sự
Lời khai ca nguyên đơn dân sự li trình bày của nhân, quan hoặc tổ chức bị thiệt hại về vt chất đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Lời khai của nguyên đơn dân sự ý nghĩa cho việc xác định thiệt hại vật chất do tội phạm gây ra.
d, Lời khai của bị đơn dân sự
Lời khai của bị đơn dân sự li trình bày của nhân, quan, tổ chức mà pháp luật quy đnh phải chịu trách nhiệm vật chất đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Nội dung li khai của bị đơn dân sự th lời trình bày về việc họ có chấp  nhận  yêu  cầu  bồi  tờng,  mức  bồi  thường  của  nguyên  đơn  dân  sự  hay không, do của các ý kiến này...
e, Lời khai của người bị tạm giữ
Lời  khai  của  người  bị  tạm  giữ   lời  trình  bày  của  người  bị  bắt  trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang (có quyết định tm giữ đối với họ) về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi là đã thực hiện tội phạm. Nội dung li khai của người bị tạm giữ thông thường một trong hai khả năng:
Họ khai nhận hành vi phạm tội. Trong trường hợp này vẫn cần phải thẩm tra xác minh để căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can...
Họ đưa ra những do trình bày mình không phm tội, không lỗi... (cần xác minh làm sự thật, không tuỳ tiện quy kết theo nhận định chủ quan khi ca thẩm tra xác minh)
Khi đánh giá lời khai của nời bị tạm giữ phải thật khách quan, không được cho rằng họ đã phạm tội (đề phòng sự nhầm lẫn), cũng không được chủ quan cần đề phòng họ đánh lạc hướng quan điều tra. Nời bị tạm giữ tờng quan tâm đến vụ án. Vì vậy, lời khai của họ cần phải được xem xét kỹ lưỡng và so sánh với các tài liệu khác trong quá trình thẩm tra xác minh.
g, Lời khai của bị can, bị cáo
Lời khai của bị can, bị cáo lời trình bày của người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tình tiết của vụ án.
Bị can, bị cáo là người hiểu rõ nhất về những tình tiết của vụ án. Lời khai của họ ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng t sự thật. Tuy nhiên, họ không nghĩa vụ phải khai báo như nời làm chứng họ quyền bào chữa. Nếu bị can, bị cáo khai báo thành khẩn thì được khoan hồng. vậy, trong tố tụng hình sự Việt Nam thì luôn khuyến khích bị can, bị cáo tích cực góp phần xác định sự thật của vụ án. Trong khi đó, một số nước, bị can bị cáo hoàn toàn quyền im lặng- quyền này được giải thích cho họ biết khi tiến hành hỏi cung. Chẳng hạn, Toà án Mỹ trước đây cũng như hiện nay không yêu cầu bị cáo phải thú tội. Tuy vậy trên thực tế không đơn giản như thế, thông cho thấy khoản 75-90% các bản án đều được đưa ra trên sở các bị cáo tự thú nhận. Trong các trường hợp khi bị cáo không phản kháng đều bị kết tội (99%)(1). Thậm chí lại sự mặc cả giữa công tố viên bị can trong vic nhận tội.
h, Lời khai của nời quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
lời trình bày của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến các quyết định của Toà án. Nội dung lời khai của họ cũng phải được xem xét ơng tự như lời khai của nời làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự....
3. Kết luận giám định
Điều 1, Pháp lệnh Giám định tư pháp số 24/2004/PL-UBTVQH11 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành quy đinh: “Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.”
Kết luận giám định bản nhận xét của người giám định về vấn đề liên quan đến việc làm vụ án hình sự được cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trưng cầu, dựa trên sở quy luật khách quan của tự nhiên, hội.
Kết luận giám định sở để xác định tội phạm xảy ra hay không, ai là người phạm tội... Vì vậy, mặc dù Bộ Luật tố tụng hình sự, không có quy định việc giám định trước khi khởi tố vụ án hình sự. Song thực tế trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, hoạt động giám đnh th được tiến hành tớc khi khởi tố vụ án hình sự như giám định về nguyên nhân chết người, tính chất mức độ tơng tích, mức độ tổn hại sức khoẻ, nguyên nhân cháy...Nời giám định chỉ đựơc phép kết luận trong phạm vi được trưng cầu mà không được kết luận sang những vấn đề thuộc thẩm quyền của người tiến hành tố tụng hình sự. Nời giám định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật v kết luận của mình.
Trong trường hợp quan tiến hành tố tng hình sự không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu do, nếu kết luận chưa hoặc chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại (khoản 2, Điều 55 Bộ Luật tố tụng hình sự). Tuy nhiên, việc giám định lại phải theo đúng pháp luật.
Những tình tiết trong bản kết luận giám định chứng cứ khi đủ ba thuộc tính của chứng cứ.
Kết luận giám định loại nguồn chứng cứ quan trọng các chứng cứ này được dựa trên những sở của các thành tựu khoa học. Khoa học càng phát triển thì các thành tựu của càng được sử dụng nhiều vào việc giải quyết vụ án hình sự.
Theo các quy định của pháp luật tố tng hình sự thực tiễn đấu trnh chông tội phạm thì các trường hợp trưng cầu giám định để phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự được chi thành hai trường hợp:
Thứ nhất, theo quy đnh tại khoản 5 Điều 44; khoản 2 Điều 57 Bộ Luật tố tụng hình sự thì bắt buộc phải trưng cầu giám định khi xác định:
Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ, khả năng lao động.
Tình trạng tân thần của bị can, bị cáo trong trường hợp nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự  của họ.
Tình trạng tâm thần của nời làm chứng, người bị hại trong trường hợp có nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án.
Khi vật chứng vàng bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, chất ma tuý.
Thứ hai, theo quy đnh tại Điều 130, Bộ Luật tố tụng hình sự thì quan tiến hành tố tụng hình sự tng cầu giám định khi xét thấy cần thiết:
Do yêu cầu của vụ án (thu được những tài liệu cần thiết phải giám định...) Vấn đề thuộc chuyên môn khoa học người tiến hành tố tụng hình sự không  thể  tự  mình  kết  luận  được  (vì  không   khả  năng  hoặc  không  khách quan...). Ví dụ: Hàng giả, văn h phẩm...
Kết thúc việc giám định, người giám định phải bản kết luận giám định. Trong bản kết luận giám định, nời giám định thể đưa các dạng kết luận giám định như sau:(1)
- Kết luận khảng định kết luận dứt khoát đối với vấn đề cần giám định đã được đặt ra, tính chất xác định dứt khoát hoặc phủ đnh dứt khoát. Dạng kết luận này giá trị chứng cứ. Trên sở yêu cầu giám định, các tài liệu được gửi đến giám định... người giám định thể kết luận khảng định một số dạng sau:
+ Kết luận về sự đồng nhất kết luận khảng định trực tiếp một người một vật hoặc một sự việc.
+ Kết luận về sự đồng loại kết luận xác định một nhóm người, vật, sự việc. Chẳng hạn kết luận về giới tính người để lại dấu vết, xác định diện tình nghi, diện vật chứng cần tìm, diện sự việc cần kiểm tra...
- Kết luận khả năng là kết luận không dứt khoát đối với vấn đề giám định đã được đt ra, nhưng nó có xu ớng xác định về mt nời, một vật hoặc mt sự việc nhất định. Việc xác định thể đúng th không đúng. vậy, kết luận dạng này chỉ giá trị tham khảo, dùng để y dựng gi thuyết điều tra.
- Không kết luận được thể do các tài liệu, vật chứng, dấu vết, mẫu vật gửi đến không đủ yếu tố để kết luận hoặc quan giám định không đủ thời gian, pơng tiện, kinh phí, trình độ để kết luận.
Công tác giám định trách nhiệm của các quan tiến hành t tụng hình sự. Công tác này bao gồm: Hoạt động tng cầu giám định, hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả giám định. Không giao cho người bị hại tự đi giám định hoạt động giám định là hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, thủ tục.
Khác với việc giải quyết một số loại án (dân sự, hành chính...), hoạt động trưng cầu giám định trong vụ án hình sự được giao cho Thủ trưởng quan điều tra. ý kiến đề nghị  bổ sung vào Điều 141 Bộ Luật tố tụng hình sự cho phép Viện kiểm sát quyền tng cầu giám định(1).
4. Biên bản hoạt động điều tra, xét xử các tài liệu khác
Biên bản hoạt động điều tra, xét xử những văn bản pháp ghi nhận những hoạt động tố tụng của quan tiến hành tố tụng hình sự. Những tình tiết ghi trong biên bản điều tra (biên bản khám nghiệm hiện tờng, khám nghiệm tử thi, khám xét...), xét xử (biên bản phiên toà, biên bn nghị án, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản xem xét tại chỗ...) hoặc các hoạt động tố tụng khác thể được coi chứng cứ (khi thoả mãn các thuộc tính của chứng cứ). Chú ý đảm bảo tính hợp pháp của các biên bản điều tra, xét xử.
Tài liệu khác những văn bản hợp pháp khác những tình tiết liên quan đến vụ án các quan, tổ chức hoặc nhân cung cấp cho các quan tiến hành tố tụng hình sự. Các tài liệu khác như lý lịch bị can, giấy khai sinh, báo cáo ca quan Nhà ớc, biên bản xử lý vi phạm hành chính, trích lục tiền án tiền sự... Các tài liệu khác thu được phải chú ý đến nguồn cung cấp (về thẩm quyền, sự khách quan...) và tính hợp pháp khi thu thập. Nếu tài liệu có dấu vết của tội phạm thì được coi là vật chứng. (Ví dụ: Hoá đơn chứng từ, thư...)
Lược trích từ sách

Lưu ý: Bộ Luật Tố tụng hình sự Cũ: Bạn có thể kể thừa về mặt lý luận nhưng khi áp dụng cần phân tích trên văn bản luat Hiện hành

0 comments:

Post a Comment

Để lại góp ý của bạn để blog của mình hoàn thiện hơn :))