17 March 2011

Chứng cứ và Chứng minh trong Tố tụng dân sự Việt Nam


Bài viết liên quan:

(người post lược trích)
c. Về vấn đề chứng cứ và chứng minh
Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một nội dung quan trọng nhưng rất phức tạp. “Pháp luật tố tụng dân sự không thể được coi là hoàn thiện nếu không có những chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (…). Pháp luật mà không có chứng cứ thì chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng chứng cứ dù không có pháp luật vẫn có tất cả ý nghĩa của nó” (Kỷ yếu Hội thảo về pháp luật Tố tụng Dân sự năm 1999 tại Nhà pháp luật Việt - Pháp). Hay trong báo cáo công tác của ngành toà án trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự cho thấy “chất lượng hồ sơ vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình phụ thuộc vào chất lượng điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có đầy đủ, chính xác và khách quan hay không và có chấp hành nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng hay không là cơ sở của một bản án, quyết định đúng đắn” (Báo cáo công tác của ngành Tòa án năm 2001).
Xét trên phương diện lý luận, vấn đề “chứng minh” và “chứng cứ” có một số quan điểm đánh giá như sau:
Thứ nhất, trên phương diện quyền và nghĩa vụ của đương sự thì việc cung cấp chứng cứ và chứng minh là nghĩa vụ chứ không phải là quyền của đương sự. Bởi lẽ, một khi đương sự đưa ra các yêu cầu để toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì phải chứng minh cho các yêu cầu đó là có căn cứ, là hợp pháp. Việc chứng minh đó không phải là tuỳ tiện, vô lý, mà phải là dựa trên các chứng cứ của đương sự cung cấp, thu thập được. Để quyền lợi của mình được đảm bảo, trước hết đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh, đó là cơ sở bắt buộc (nghĩa vụ). Nếu coi chứng cứ và chứng minh vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ là không chính xác. Bởi vì quyền là cái không bắt buộc chủ thể phải thực hiện (nhưng quyền lợi hợp pháp vẫn được bảo đảm).
Thứ hai, trên phương diện nội dung quyền tự định đoạt của đương sự, quyền đưa ra chứng cứ, bổ sung chứng cứ và chứng minh là một nội dung quyền tự định đoạt của đương sự. Theo cách phân chia của PGS.TS Phạm Hữu Nghị, thì "quyền tự định đoạt của đương sự bao gồm: quyền khởi kiện; quyền đưa  ra chứng cứ, bổ sung chứng cứ và chứng minh; quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu và rút đơn khởi kiện; quyền thương lượng, hoà giải" [1]. Theo quan niệm này, chứng cứ và chứng minh là một nội dung của quyền tự định đoạt của đương sự. Còn theo cách phân chia của TS. Nguyễn Ngọc Khánh, "quyền tự định đoạt của đương sự bao gồm: Quyền đưa ra các yêu cầu khởi kiện; quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của yêu đơn; quyền rút đơn khởi kiện; quyền hoà giải; quyền kháng cáo phúc thẩm" [2]. Như vậy, chứng minh, chứng cứ  ở đây lại không được coi là một nội dung quyền tự định đoạt của đương sự.
Thứ ba, để bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của đương sự được đầy đủ và toàn diện hơn thì pháp luật tố tụng dân sự không nên quá coi trọng đến mức tuyệt đối hoá nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự như hiện nay. Bởi lẽ trong quá trình tố tụng, do thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng hoặc vì nguyên nhân nào đó mà các đương sự không thể đưa ra được tất cả các chứng cứ để chứng minh sẽ đồng nghĩa với việc các quyền lợi hợp pháp của họ sẽ không được bảo đảm đầy đủ. Vì vậy, sự tham gia của tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng luôn luôn phải là chủ thể tích cực, chủ động tham gia thu thập chứng cứ và điều tra, xác minh chứ không phải là “chỉ điều tra, xác minh khi cần thiết” như quy định của pháp luật tố tụng hiện nay. Điều đó cho thấy rằng “qua công tác kiểm tra, xét xử, công tác xét xử phúc thẩm và xét xử giám đốc thẩm cho thấy trong công tác giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình cũng còn nhiều thiếu sót, chủ yếu là do việc điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu của vụ án chưa đầy đủ, chưa chính xác, thậm chí còn có những trường hợp thiếu khách quan” (Báo cáo công tác ngành Tòa án năm  2001). Bên cạnh đó, có những vụ án dân sự phải xử đi xử lại nhiều lần là do việc các tòa án không thống nhất được việc đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ. Do vậy, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chứng cứ hiện nay là rất cần thiết.
Mặt khác, việc đưa ra các chứng cứ và chứng minh có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nếu chứng cứ đã đầy đủ, nhưng việc chứng minh tại phiên toà lại bị giới hạn bởi thời gian tranh tụng thì quyền lợi của đương sự có thể không được bảo đảm đầy đủ. Bởi kéo dài thời gian tranh tụng đồng nghĩa với việc các đương sự sẽ có nhiều cơ hội để tranh luận trên cơ sở các nguồn chứng cứ mà đương sự cung cấp. Thực tế hiện nay, trong các phiên tòa dân sự, hoạt động xét hỏi của Hội đồng xét xử vẫn được coi là hành vi tố tụng "trung tâm" tại phiên toà, Vì vậy, hoạt động của tòa án như hiện nay chưa phản ánh đúng và đầy đủ "quyền tự định đoạt" của đương sự trong quá trình tố tụng, đặc biệt là tố tụng tại phiên toà.
Thứ tư, trong Bộ luật Tố tụng Dân sự đã quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh (Điều 80), nhưng lại không có quy định về những tình tiết sự kiện phải chứng minh. Điều này "không những làm mất cân đối giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, mà còn làm cho các chủ thể lúng túng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ chứng minh của họ, nhất là các đương sự[3]. Khi tham gia tố tụng, đương sự chỉ phải chứng minh trong phạm vi yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của họ là chưa đủ, mà còn phải chứng minh các sự kiện, tình tiết khác của vụ việc dân sự. Ngoài ra, do thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng nên các đương sự thường không biết phải chứng minh làm rõ sự kiện, tình tiết gì và vì vậy cũng không xác định được chứng cứ, tài liệu phải cung cấp cho tòa án để chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình. Mặt khác, tại điểm c, Khoản 1, Điều 80 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản, và được công chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh. Tuy vậy, thực tế cho thấy, trong trường hợp tòa án có nghi ngờ về tính đúng đắn của việc công chứng, chứng thực thì những tình tiết đó vẫn phải được xác định lại. Nhưng trong Bộ luật Tố tụng Dân sự không thấy có quy định là việc đó có phải chứng minh hay không, và ai phải chứng minh (nếu có).
Thứ năm, theo như ThS. Nguyễn Công Bình, “để thực hiện việc chứng minh, dù trong tố tụng dân sự hay tố tụng hình sự thì các chủ thể đều phải sử dụng các phương tiện chứng minh nhất định do pháp luật quy định chứ không phải sử dụng bất kỳ một phương tiện nào” [4]. Trên thực tế, trong tố tụng hình sự có quy định đầy đủ về các phương tiện chứng minh (Khoản 2, Điều 64, Bộ luật Tố tụng Hình sự), trong khi đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự lại không có quy định nào về phương tiện chứng minh. Vì vậy trong tố tụng dân sự, các chủ thể sẽ sử dụng những phương tiện nào để chứng minh và chứng minh như thế nào thì được coi là hợp pháp. Do đó, nếu không được giải thích đầy đủ, các chủ thể sẽ rất dễ nhầm lẫn, thậm chí là đồng nhất giữa các khái niệm “nguồn chứng cứ”, “phương tiện chứng minh” và “chứng cứ”.



[1]   Phạm Hữu Nghị (2000), “Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự”,  Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (12), tr. 39-40.
[2]  Nguyễn Ngọc Khánh (2005), “Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (5), tr. 65-68.

[3] Nguyễn Công Bình (2005), “Đặc san về Bộ Luật TTDS”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (5), tr. 9.
[4] Sđd; tr. 10.

0 comments:

Post a Comment

Để lại góp ý của bạn để blog của mình hoàn thiện hơn :))