28 August 2011

[TÀI LIỆU] Một số hành vi Tội phạm sử dụng công nghệ cao - Tội phạm máy tính


Bài viết liên quan:

1. Sự tác động của các quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng
 Trong những năm gần đây, chúng ta ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên nhiều lĩnh vực (như sở hữu trí tuệ; hợp tác thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ...) Đặc biệt từ khi Việt Nam ký kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO đã mở ra cơ hội lớn cho việc phát triển kinh tế đất nước, nhưng chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, phải tuân thủ các cam kết quốc tế thuộc nhiều lĩnh vực trong đó có những nội dung còn rất mới mẻ đối với Việt Nam. Chỉ riêng các cam kết về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng đòi hỏi pháp luật hình sự phải có những sửa đổi phù hợp như quy định cụ thể và mở rộng bảo vệ bằng pháp luật hình sự quyền liên quan khi quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, sở hữu công nghiệp... Đối với lĩnh vực tư pháp hình sự, chúng ta đã tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và nhiều hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ các nước về hợp tác phòng chống tội phạm, tương trợ tư pháp; chống rửa tiền và tài trợ khủng bố... Một số nước quan hệ ngoại giao, kinh tế với nước ta không áp dụng hình phạt tử hình hoặc chỉ áp dụng hình phạt tử hình trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; các mức hình phạt đối với các tội về kinh tế nhìn chung thấp hơn so với các tội phạm tương ứng của pháp luật hình sự Việt Nam; một số quốc gia, tổ chức quốc tế có quy định, khuyến nghị quy định về tội phạm tài trợ khủng bố; tội tổ chức tội phạm; tội mua bán người bao gồm cả đàn ông...
Và đặc biệt, chúng ta cũng đang trong tiến trình gia nhập Quy chế Rome về Toà án hình sự Quốc tế nhằm thực hiện tốt công tác đối ngoại, giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước, nhưng hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam còn nhiều điểm chưa tương thích với Quy chế Rome như phần các tội danh, hình phạt, tuổi chịu trách nhiệm hình sự,...
2. Sự thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội
Trong những năm gần đây, nền kinh tế xã hột của nước ta đã có nhiều thay đổi. Chúng ta xây dựng thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản; phát triển hệ thống ngân hàng, hạn chế sử dụng tiền mặt, tăng cường các giao dịch bằng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Quốc hội và các cơ quan hữu quan đã ban hành, sửa  đổi bổ sung các luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết thông tư liên tịch... về sở hữu trí tuệ; về công nghệ thông tin; về phòng, chống tham nhũng; về tổ chức hoạt động ngân hàng, tín dụng; về doanh nghiệp; về thuế giá trị gia tăng, về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; về chứng khoán và thị trường chứng khoán; về phòng chống ma tuý; phòng chống mại dâm; phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em; phòng chống rửa tiền; bảo vệ môi trường...
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chát triển đất nước đã đạt được những kết quả nhất định, kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi, mức lương tối thiểu đã tăng từ 180.000 đồng lên 540.000 đồng và sẽ tiếp tục tăng; nhiều ngành nghề mới được mở ra, công nhận như môi giới chứng khoán, môi giới nhà đất; đặc biệt là các hoạt động liên quan đến công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông; bán hàng, cung ứng dịch vụ qua mạng internet... Tuy nhiên, trong xã hội xuất hiện một số hiện tượng vi phạm gây thiệt hại lớn mới xuất hiện thuộc ngành công nghệ thông tin, công nghệ cao như: làm giả thẻ tín dụng để rút tiền tại các máy rút tiền tự động ATM, để thanh toán khi mua hàng; nhắn tin khuyến mại giả tạo để chiếm đoạt tài sản của người khác; lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, chiếm đoạt tiền cước trái phép; xâm phạm trái phép vào mạng chuyên dùng để đánh cắp dữ liệu hoặc làm sai lệch dữ liệu của máy tính; lưu trữ và phát tán những ấn phẩm độc hại trên mạng Intemet... Hoặc có một số hành vi nguy hiểm có tính đặc thù mới xuất hiện như: lợi dụng việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi để trục lợi; làm giả các loại cổ phiếu nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác; công bố sai lệch hoặc che giấu sự thật về công ty khi chào bán chứng khoán; sử dụng hoá đơn giá trị gia tăng VAT không đúng quy định của pháp luật; mua bán người bao gồm cả đàn ông; mua bán nội tạng người; mua bán, tái chế chất thải y tế chưa qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường;... Những hành vi này, một số trường hợp đã bị truy tố, xét xử về những tội nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự nhưng trong mỗi vụ án đều tồn tại những ý kiến khác nhau, nhiều trường hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thống nhất được việc cần áp dụng quy định nào của Bộ luật Hình sự để xử phạt cho chính xác và phù hợp, thậm chí có những trường hợp các nhà nghiên cứu luật học cho rằng hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội và có một số đặc điểm của tội phạm, nhưng không có đầy đủ cơ sở của trách nhiệm hình sự theo Điều 2 Bộ luật Hình sự nên không cấu thành tội phạm Chúng tôi xin nêu một số trường hợp điển hình, đây là những vụ án có thật và trong quá trình giải quyết có những ý kiến khác nhau về việc áp dụng pháp luật hình sự, các cơ quan} tiến hành tố tụng phải họp bàn nhiều lần. 


Ví dụ 3 : Về hành vi lắp đặt, sử dụng trái  phép thiết bị viễn thông

Trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án liên quan đến việc lắp đặt, sử dụng trái phép thiết bị viễn thông; thường gặp là các hành vi như sau:

- Ký hợp đồng thuê riêng kênh viễn thông quốc tế của Công ty viễn thông quốc tế, ứng đụng dịch vụ Intemet kết nối điện thoại để liên lạc giữa mạng nội bộ thuê kênh riêng ở Việt Nam và mạng nội bộ thuê kênh riêng ở nước ngoài, nhưng đã kết nối với mạng điện thoại công cộng để kinh doanh, thu tiền.

- Lắp đặt trạm mặt đất thông tin vệ tinh và sử dụng tần số vô tuyến điện (không có giấy phép) kết nối với điện thoại cố định để gọi điện thoại quốc tế nhưng chỉ trả tiền thuê bao trong nước.

- Lợi dụng sự chồng lấn sóng viễn thông quốc tế tại các khu vực giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Liên bang Nga, các đối tượng đã đăng ký dùng thuê bao của Việt Nam (máy mẹ) sau đó dùng các máy con đưa sang Trung Quốc để chuyển các cuộc gọi từ Nga về Việt Nam.

Trong các trường hợp nêu trên, người sử dụng  đã không phải trả tiền cước, trốn được một số tiền cước phí điện thoại quốc tế rất lớn.

Căn cứ vào dấu hiệu lén lút lắp đặt thiết bị viễn thông, kết nối với mạng điện thoại công cộng để gọi điện thoại quốc tế và dấu hiệu tránh việc phải trả một số tiền lớn cước phí điện thoại, nên các cơ quan tiến hành tố tụng thường xác định đây là các vụ trộm cắp cước phí viễn thông; các bị cáo bị khởi tố truy tố xét xử về tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.

Trong giới nghiên cứu khoa học, nhiều học giả cũng đồng ý với quan điểm đây là tội "trộm cắp tài sản". Tuy nhiên, trong những vụ án cụ thể cũng có một số ý kiến cho rằng đây là tội "kinh doanh trái phép" theo Điều 159; hoặc phạm tội "vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên" theo Điều 172 Bộ luật hình sự.

Theo chúng tôi, các hành vi lắp đặt, sử dụng trái phép các thiết bị viễn thông là nguy hiểm cho xã hội, cần xử lý. Tuy nhiên, nếu kết luận các bị cáo phạm vào một trong số 3 tội danh trên đều chưa thực sự hoàn toàn chính xác; chưa nêu bật được tính chất đặc trưng của loại hành vi phạm tội này. Vì vậy, Bộ luật hình sự cần có 1 Điều luật riêng để điều chỉnh những hành vi phạm tội lắp đặt sử dụng trái phép thiết bị viễn thông.

Ví dụ 4: Về trường hợp sản xuất, sử dụng thẻ rút tiền, thẻ thanh toán giả

Trong thời gian qua, trên thực tế đã xuất hiện nhiều trường hợp sử dụng thẻ thanh toán; đặc biệt là thẻ tín dụng đa năng giả để thanh toán khi mua hàng, sử dụng dịch vụ, rút tiền tại các máy trả tiền tự động...

Các loại thẻ tín dụng, thẻ rút tiền... do.ngân hàng phát hành, ngân hàng cung  cấp cho các khách hàng một tài khoản được mã hoá bằng các con số riêng cho từng chủ thể; chủ thẻ có mã số bí mật để sử dụng thẻ khi thanh toán, rút tiền. Để tạo ra thẻ thanh toán giả người phạm tội đã tìm được bí mật của những thẻ thanh toán thật gồm số tài khoản, mã số bí mật của chủ thẻ rồi ghi các dữ liệu đó lên một thẻ trắng, tạo ra một thẻ thanh toán như thẻ thật. Sử dụng các thẻ này, bọn tội phạm có thể thanh toán tại những nơi chấp nhận thẻ (nhà hàng, khách sạn, siêu thị...) hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động. Việc sử dụng thẻ giả của bọn tội phạm làm cho chủ thẻ thật bị mất số tiền tương ứng (bị ngân hàng trừ tiền trên tài khoản). 

Khi xử lý các vụ án liên quan đến hành vi làm, sử dụng thẻ thanh toán giả, các cơ quan tiến hành tố tụng còn có quan điểm rất khác nhau về tội danh, điều luật cần áp dụng đối với người phạm tội. Thường gặp là các quan điểm sau:

Những người theo quan điểm thứ nhất cho rằng: người phạm tội rút tiền tại các máy rút tiền tự động có tính lén lút, chủ thẻ thực không biết, nên hành vi cấu thành tội "trộm cắp tài sản".

Những người theo quan điểm thứ hai cho rằng: người phạm tội dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ là "lừa đảo chiếm đoạt tài sản";

Những.người theo quán điểm thứ ba cho rằng: người phạm tội làm giả thẻ thanh toán, sử dụng thẻ giả nên cấu thành tội "sản xuất, tàng trữ, lưu hành giấy tờ có giá giả".

Phân tích hành vi phạm tội và các dấu hiệu đặc trưng của 3 loại tội phạm nêu trên cho thấy các ý kiến đều chưa hoàn toàn thoả mãn, bởi nếu trong từng trường hợp xảy tra trên thực tế có thể không định tội danh phù hợp, trong khi đó người làm thẻ sẵn sàng chấp nhận mọi  phương án để có thể lấy được tiền, hàng hoá... Ví dụ, không thể định tội "trộm cắp tài sản" trong trường hợp một người làm thẻ giả và đem tặng, bán cho người khác hoặc dùng để thanh toán; không thể định tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" nếu người phạm tội dùng thẻ rút tiền tại các máy rút tiền tự đồng; người là chủ thực sự hoàn toàn không biết việc mình bị mất tiền... Theo chúng tôi, đây là. loại tội phạm có tính đặc trưng, được ứng dụng công nghệ cao, cần được quy định bằng điều luật cụ thể riêng biệt.

Ví dụ 5: Về hành vi nhắn tin trên Intemet tới các số điện thoại di động để rút tiền từ tài khoản của máy điện thoại di động

Lê Duy Phương  và Lê Thanh Hoàng có hành vi giả mạo tin nhắn trên mạng Intemet gửi đến các số điện thoại di động với nội dung: "Chúc mừng ông bà đã trúng thưởng 50.000 đồng từ  quỹ vì người nghèo, để xác minh tài khoản ông bà soạn tin nhắn NAPTK998-NAPM84VN-TK8730- VMS084 gửi đến 8730"; "Chúc mừng ông bà đã trúng tủ rỗng 50.000 đồng từ quỹ vì người nghèo, để nhận tiền ông bà soạn tin nhắn NAPTK084- NAPTKVNN-NAPVNN84 gửi đến 8730";

Nhiều người nhận được tin nhắn có nội dung như trên, tin tưởng là mình trúng thưởng nên đã soạn tin theo hướng dẫn gửi đến tổng đài 8739; mỗi tin nhắn bị trừ cước phí là 15.000 đồng. Số tiền đó được tổng đài 8310 chuyển đến tài khoản TK889, SMS084, TKVNN, VNN84 của Phương và Hoàng trên mạng Intemet. Phương và Hoàng đã dùng số tiền đó để chơi trò trên website của VTC game online.

Cơ quan Công an đã bắt giữ Lê Duy Phương và Lê Thanh Hoàng. Trong quá trình điều tra xác định được Phương đã gửi đi 671 tin nhắn và nhận được 400 tin, chiếm đoạt được 6.000.000 đồng; Hoàng gửi đi 418 tin và nhận được 180 tin, chiếm đoạt được 2.700.000 đồng. Xác định tại đài truyền hình kỹ thuật số VTC thu thập được danh sách 580 số điền thoại di động và 8.700.000 đồng của những người bị Phương và Hoàng lừa đảo chiếm đoạt nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của từng người bị hại; chỉ nhận được 5 đơn tố cáo của những người bị hại.

Khi giải quyết vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Lê Duy Phương và Vương Thanh Hoàng về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng trong vụ án này không có người bị hại nên không xử về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Nghiên cứu vụ án này, chúng tôi xét thấy, việc xác định Lê Duy Phương và Vương Thanh Hoàng phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" là không sai so với quy định của Bộ luật hình sự, tuy nhiên việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong  tường hợp này chưa phản ánh hết đặc tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đó là người phạm tội đã có hành vi lừa dối rất nhiều người, số người nhận được tin  nhắn lớn hơn số thực tế nhắn tin trả lời mong muốn của bị cáo nhận được số tiền lớn hơn số thực tế họ nhận được vì mỗi tin nhắn gửi đi là họ đều mong muốn nhưng không phải tất cả những người nhận được tin nhắn đều trả lời theo yêu cầu. Hơn nữa, sau khi nhắn tin xong, hành vi nguy hiểm của bị cáo đã chấm dứt, việc những người nhận được có trả lời hay không hoàn toàn nằm ngoài khả năng kiểm soát của bị cáo; giữa bị cáo và người bị hại không hề quen biết...

 Vì vậy, pháp luật hình sự cần có một quy định cụ thể về hành vi tạo ra những thông tin giả trên mạng intemet, điện thoại di động nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Bên cạnh những hành vi đã bị xử lý về hình sự nêu trên (dù chưa thực sự hoàn toàn chính xác) còn có những hành vi nguy hiểm nhưng chưa bị xử lý bởi Bộ luật hình sự chưa tội phạm hoá hành vi này; hoặc chưa có quy định cụ thể như hành vi mua bán đàn ông; mua bán nội tạng người vì mục đích lợi nhuận; mua bán rác thải y tế để tái chế không đảm bảo chất lượng... Theo chúng tôi, đây là vấn đề cần sớm được cụ thể hoá thành những quy định trong Bộ luật hình sự làm căn cứ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự những người có hành vi vi phạm.

Song song với việc hình sự hoá các hành vi nguy hiểm mới xuất hiện, thì cũng cần loại bỏ, phi hình sự hoá một số tội phạm nhất định. Những hành vi này đã được xem là tình trạng bệnh tật (hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý) hoặc có vi phạm pháp luật nhưng không phải là hành vi nguy hiểm có tính chất của tội phạm hình sự; hoặc đã được cấu thành trong những loại tội phạm khác, đó là tội "lừa dối khách hàng" điều 1 62). Điều này quy định như sau: "Người nào trong việc mua, bán mà cân, đong, đo đếm, tính gian, đánh tráo các loại hàng hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng hoặc đã xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được : xoá án.tích mà còn vi phạm thì bị phạt...". Theo chúng tôi, hành vi mà điều luật mô tả nếu nhỏ nhặt thì chỉ là những vi phạm hành chính, nếu nghiêm trọng, có tính chiếm đoạt thì có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, khi đó cần đưa về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" có mức hình phạt cao hơn mới đảm bảo tính công bằng của pháp luật. 




Lược trích một số nội dung liên quan đến Góp ý sửa đổi BLHS và Phân tích

1 comments:

  1. Công ty cổ phần Địa Ốc Kim Phát chuyên bán  dia oc kim phat chính hãng – giá rẻ hàng đầu Việt Nam
    --------------------------------
    Giá rẻ nhất – Cao cấp nhanh nhất – bền nhất – Liên hệ ngay:
    Web:   dia oc kim phat
    ( Xem tai day):   dia oc kim phat
    ( xem tai day ): dia oc kim phat

    ReplyDelete

Để lại góp ý của bạn để blog của mình hoàn thiện hơn :))